MỘT KHÁM PHÁ MỚI TRONG CÔNG TÁC CẢI THIỆN HOẠT ĐỘNG THƯỞNG THỨC MỸ THUẬT TẠI TRƯỜNG MẦM NON ( Phần 2 )

MỘT KHÁM PHÁ MỚI TRONG CÔNG TÁC CẢI THIỆN HOẠT ĐỘNG THƯỞNG THỨC MỸ THUẬT TẠI TRƯỜNG MẦM NON ( Phần 2 )
– Bài báo không chỉ phân tích một cách kỹ lưỡng quá trình phát hiện và nuôi dưỡng, đào tạo tính thẩm mỹ nghệ thuật cho trẻ nhỏ mà còn gợi ra một con đường giáo dục đề cao sự tương tác – nhân văn – lấy trẻ làm trung tâm.
II. “ Phát hiện hoạt động” đề xuất các yếu tố nuôi dưỡng chủ thể trong hoạt động thưởng thức nghệ thuật của học sinh mầm non.
1. Một đôi mắt nhìn ra cái đẹp
1.1. Nhìn thấy – Nâng cao tính mẫn cảm trong thẩm mỹ.
Thưởng thức nghệ thuật quan trọng cần một đôi mắt “sắc bén” có thể phát hiện ra cái đẹp, đây chính là tính mẫn cảm trong thẩm mỹ. Kết thúc 1 năm nghiên cứu thực nghiệm, tính mẫn cảm trong thẩm mỹ của trẻ nhỏ đã tăng trưởng rõ rệt so với trước đó.
Ví dụ: Những sự thay đổi nho nhỏ trong môi trường của lớp học đã thu hút được nhiều hơn những sự chú ý của tụi nhỏ; Một sản phẩm mới trong hàng loạt những đồ dùng cũ kỹ tại môi trường chuyên biệt ( nghệ thuật ) đã mau chóng thu hút ánh nhìn của học sinh. Những điều này là do hoạt động thưởng thức nghệ thuật của trẻ mầm non đã đánh thức những giá trị cơ bản tốt đẹp trong đứa trẻ.
1.2. Nhìn nhiều – Mở rộng phạm vi thẩm mỹ.
Sau khi chúng tôi khai triển việc nghiên cứu “ Phát hiện hoạt động” đối với nội dung sơ lược sau phát hiện trong việc thưởng thức nghệ thuật của trẻ em mầm non, điểm chủ chốt trong kinh nghiệm nghệ thuật của trẻ em khởi nguồn ở cảnh sắc tự nhiên, cảnh quan nhân văn, hoạt động hàng ngày và vẻ đẹp trong các lễ hội, các danh hoạ, đa dạng các loại hình nghệ thuật dân gian…Phạm vi thẩm mỹ của hoạt động thưởng thức nghệ thuật ở trẻ em đi từ việc thưởng thức đơn nhất 1 danh hoạ đến sự thay đổi da dạng trong nội dung thưởng thức.
1.3. Quan sát với 1 thái độ vui vẻ – Sự cảm nhận vui sướng về thẩm mỹ.
Hãy nhớ rằng lần đầu tiên bạn đưa cho trẻ nhỏ thưởng thức tác phẩm của Joan Miró, rất nhiều học sinh cảm thấy không có hứng thú. Điều này là do năng lực thẩm mỹ của trẻ còn ít, làm cho các con không thể thưởng thức, cảm nhận vui vẻ trong thẩm mỹ lúc này rất yếu. Trong thời gian giữa năm nghiên cứu này, các giáo viên lập rất nhiều kế hoạch cho hoạt động tham gia và thưởng thức nghệ thuật, cảm giác vui vẻ trong thẩm mỹ của các bạn nhỏ ngày càng thể hiện mạnh mẽ. Cùng thời gian đó, điều này cũng đã đạt đến mục đích của việc thưởng thức nghệ thuật – Thưởng thức với một thái độ hào hứng và vui vẻ.
2. Năng lực thể nghiệm cái đẹp.
2.1. Năng lực quan sát có ý thức.
Tiền kỳ của “ Phát hiện hoạt động” sau khi giáo viên giới thiệu đối tượng thưởng thức thì năng lực quan sát của học sinh lên đối tượng còn yếu, và sự cổng hưởng, dẫn dắt của bạn cùng lớp cũng chưa lớn. Sau giai đoạn “ Phát hiện hoạt động” năng lực quan sát của trẻ em đã có sự cải thiện rõ ràng
Ví dụ: Kênh Discovery trên TV đang phát 1 đoạn Video về thế giới dưới đáy biển, ngay lập tức đã thu hút được sự chú ý của trẻ nhỏ, cùng lúc đó giáo viên đưa ra 1 câu hỏi gợi ý “ Các con đã phát hiện ra điều gì thế ?”, tụi nhỏ hăng hái trả lời: “Con phát hiện ra 1 ông rùa” ; “ Con nhìn thấy một bạn sứa nhỏ đang bơi” ; “ Con trông thấy 1 đàn cá vàng ở đằng sau đám san hô kìa cô ơi”……Giáo viên nâng cao câu hỏi lên 1 chút “ Ồ, các bạn ấy đang làm gì vậy nhỉ ?”, tụi nhỏ càng nhiệt tình hơn nữa đưa ra câu trả lời : “ Ôi, bọn chúng đang rủ nhau đi chơi kìa” ; “ Các bạn ấy đang nhảy mùa cô ạ”…..
2.2. Năng lực chú ý ổn định.
Chúng tôi thông qua đối chiếu trước và sau khi nghiên cứu phát hiện và quan sát hiện trạng giảng dạy hoạt động thưởng thức nghệ thuật, trước nghiên cứu thì năng lực chú ý của trẻ mầm non đối với hoạt động thưởng thức nghệ thuật bình quân giữ được khoảng 5 phút, sau khi nghiên cứu phát hiện năng lực chú ý của trẻ đối với hoạt động này có thể đạt tới 11 phút. Trước nghiên cứu cũng cho thấy có 20% trẻ em có thể giữ được sự chú ý cao đối với đối tượng thưởng thức nghệ thuật, nhưng sau quá trình nghiên cứu cho thấy có tới 86% trẻ em có thể giữ được năng lực chú ý cao đối với hoạt động này.
2.3. Năng lực tự do tưởng tượng.
Năng lực tưởng tượng của trẻ em đối với sự trải nghiệm thẩm mỹ trong các sự vật có mối quan hệ mật thiết. Trước và sau nghiên cứu chúng tôi để trẻ nhỏ cùng thưởng thức một chủng loại sự vật mà triển khai tưởng tượng thẩm mỹ, các em biểu hiện ra rất nhiều sự khác biệt lớn.
Ví dụ: Chúng tôi dùng Sách tranh ( Giải phẫu cơ thể người) sử dụng trong việc gợi ý trẻ đưa ra sự phỏng đoán về những hình tượng khác nhau đều có màu đen ( Xem đó là bộ phận nào trong cơ thể? ), sau nghiên cứ “ Phát hiện hoạt động” cho thấy thời gian trẻ tưởng tượng đạt tới 15 phút so với trước đó chỉ là 4 phút.
3. Phương thức biểu hiện cái đẹp.
3.1. Sự thể hiện tâm trạng ngày càng tích cực.
Trong một năm nghiên cứu, chúng tôi phát hiện ra có lúc trẻ em không sử dụng bất kỳ một phương thức biểu đạt nào bên ngoài để thể hiện rằng bản thân đã phát hiện ra cái đẹp, nhưng khi bạn cẩn thận cảm nhận tâm trạng của trẻ nhỏ, bạn có thể phát hiện ra rằng chúng đang thể hiện một tâm trạng “ Bên trong như đã – Mặt ngoài còn e”
Thực sự trong thời khắc này trẻ nhỏ đã phát sinh một cảm nhận về cái đẹp, phương thức thể hiện tâm trạng 1 cách “ bí mật” như thế này là 1 con đường rất quan trọng trong việc biểu đạt của trẻ em. Tâm trạng thể hiện tương tự ngày càng phong phú, chúng ta có thể thường xuyên nhìn thấy học sinh mầm non biểu hiện tâm trạng vui vẻ trong hoạt động thưởng thức nghệ thuật.
3.2. Ngôn ngữ giao lưu ngày càng phong phú
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn phát hiện ra rằng , mặc dù ngôn ngữ biểu đạt của trẻ em mầm non về tính trôi chảy và tính chủ động đều chưa mạnh mẽ , tuy nhiên trong hoạt động tự do – thư giãn thưởng thức nghệ thuật trẻ em cùng với sự cổ vũ/động viên từ phía giáo viên đã xuất hiện 1 số ngôn ngữ thưởng thức tuyệt vời.
Ví dụ: Một lần trong chủ điểm “ Phát hiện hoạt động từ môi trường bên ngoài” qua việc quan sát các đám mây, có bạn nhỏ đã nói “ Những đám mây trắng trắng thật giống những chiếc kẹo bông ngọt ngọt, con muốn ăn quá!” ; hay “ Chiếc khăn quàng cổ ấm áp thật giống như mẹ đang ôm con”….
3.3. Biểu đạt nghệ thuật ngày càng sáng tạo.
So sánh giữa các lớp tham gia và không tham gia nghiên cứu “ Phát hiện hoạt động” , phân tích các sản phẩm nghệ thuật của các em chúng tôi phát hiện có sự khác biệt rõ ràng.
Đầu tiên: Những trẻ em đào tạo theo chương trình “ Phát hiện hoạt động” ngày càng dày dặn hơn trong quá trình sáng tác, các em đối với sản phẩm của bản thân thể hiện sự tự tin rất lớn;
Tiếp theo phân tích từ việc quan sát sản phẩm: Các sản phẩm của những học sinh trong chương trình “ Phát hiện hoạt động” đều mang những câu truyện riêng, không phải là những sản phẩm thủ công giản đơn.

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *